![]() |
| MỘT – HAI – BA : DÔ ! |
TRẦN
HUIỀN ÂN
Khi ăn đồng thời uống
rượu, uống bia người ta nói là ăn nhậu.
Nhậu là phần uống rượu, uống bia. Không
gọi uống nước trà, nước ngọt là
nhậu. Người uống nhiều rượu bia
dễ bị say, khi say nhiều khi mất tự chủ,
thiên hạ gọi họ là bợm nhậu. Bàn tiệc
ăn nhậu gọi là bàn nhậu. Một nhóm ngồi
ăn nhậu gọi là làng nhậu. La cà ăn uống
suốt ngày gọi là nhậu nhẹt. Khoảng năm 1970
về trước những tiếng “nhậu – ăn
nhậu – nhậu nhẹt” bị đánh giá thấp, nay thì
thấy bình thường, người ta thản nhiên nói:
“Bữa nào rảnh tới nhậu chơi – Cả tuần
nay ăn nhậu miết – Bạn bè họp lại nhậu
nhẹt cho vui”. Tiếng “nhậu” đã được nâng
cấp.
Trong
văn chương, các thi sĩ thường hay nói
đến chuyện “say”, có
khi nói rõ là “uống say”. Ông
Nguyễn Bắc Sơn tiếc việc biết nhau trễ
(tôi nhớ hình như là): “Phải
chi mình gặp nhau hồi trước. Tao cho mày say quất
cần câu”. Ông Nguyễn Bính viết: “Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu. Mà không
uống cạn, mà không say”…rồi… “Bữa mộng ân tình say đến sáng. Bài thơ tâm
sự nghĩ không ra”. Qua
thơ, thấy cả hai ông đều không phải là
bợm nhậu, ông Sơn khôn tổ, tao cho mày say, cho bạn uống chớ ông đâu có
uống, ông Bính uống dở ẹc, không biết muôn hớp cộng lại
được mấy ly mà say
đến sáng, không nghĩ được câu thơ nào?
Ông Nguyễn Vỹ làm thơ gởi Trương Tửu: “Nay ta thèm rượu nhớ mong ai! Một mình rót uống
chẳng buồn say”. Mới đọc qua tưởng
đâu ông là tửu đồ có hạng “uống chẳng
buồn say”, thêm vào đó trên đầu bài ông cẩn
thận ghi “Viết trong lúc say”,
dưới cuối bài lại quả quyết ghi “Viết rồi hãy còn say”…
Thế nhưng: “Trước
kia (Nguyễn Vỹ và Trương Tửu) hai thằng (mới) hết một nậm” mà
đã “Trò chuyện dông dài
mặt đỏ sẫm. Nay một mình (Nguyễn
Vỹ) ta một be con. Cạn
rượu rồi thơ mới véo von”. A! Thế là
đã rõ, có gì đâu, ngỡ rằng ông uống túy lúy càn
khôn mà thơ phú véo von mới tài chứ, “một be con” sần sần thì có nghĩa gì! Tóm
lại, nói vậy mà không phải vậy, mấy ông tuyên
bố ầm ĩ trên sách vở báo chương thực
chất uống không bao nhiêu. Đáng sợ là các bợm
nhậu không nói gì, lặng lẽ rót, lặng lẽ
uống.
Uống một mình,
chữ nghĩa nói là độc ẩm. Ông Tường Linh
viết: “Chẳng muốn
cũng đành ngồi
độc ẩm. Nhớ thương bằng hữu bốn
phương trời”. Thời chiến tranh, ngày đêm bom
đạn, thi sĩ ở ngay Sài Gòn, uống một mình
ngồi nhớ bạn bè tứ xứ không biết sống
chết thế nào, buồn lắm chứ. Nói vậy
chớ cũng lắm người buồn hết cỡ
rồi, không còn biết buồn nữa, thích độc
ẩm, dù trà hay rượu.
Buổi sớm tinh
sương ngồi một mình bên bình trà, uống dần
dần từng chén nhỏ, hết chén này đến chén
khác, suy nghĩ sự đời một cách tỉnh táo,
không mệt mỏi, không chán nản, có thể nghêu ngao ngâm
nhỏ một vài câu thơ, hay dở mặc kệ, ta ngâm
cho ta nghe, ta đọc cùng ta… Thích chứ! Xong ta đi làm việc
khác, thật sảng khoái. Một mình ta, có ai mà chi,
người khác sẽ xen vào dòng cảm nghĩ của ta,
mất vui. Bình minh nhất
trản trà là như vậy. Còn bán dạ tam bôi tửu, ta cũng ngồi một
mình ta, nhấm chút rượu ngon và suy gẫm, ta từng
trải hơn buổi sáng, ta là con kỳ con ký bị trói
chân, ta là ngựa nản chân bon,
chút men đồng giúp ta lâng lâng quên hết mọi sự,
đi vào giấc ngủ êm đềm. Trà cũng như
rượu, đừng ham hố uống nhiều thành
ăn uống vô độ, hư sự!
Có người cũng
uống một mình với cung cách khác. Pha một bình trà
lớn để đó, đi làm việc quanh sân, quanh nhà,
một chặp vào rót tô đầy hay ly đầy, chén
đầy, nước hẩm hẩm, uống một
hơi, đã đời. Một ly nước trong,
nước lọc cũng vậy. Có người ghiền
rượu, một chặp vào “lỳ một lam” (làm
một ly), chắp chắp nghe ngon lành, rồi ra tiếp tục công
việc.
Người xưa nói: “Hai thứ để càng lâu càng
quý là bạn hiền và rượu ngon”. Lại còn than vãn: “Rượu
ngon không có bạn hiền”. Uống rượu với
bạn kiểu người xưa là mừng tái ngộ, là
tiễn nhau một chén quan hà, trang trải nỗi lòng,
bộc bạch tâm sự, cho vơi đi những buồn
phiền, cho tăng niềm hưng phấn. Họ xưng
là tiên tửu, uống rượu thanh thản như
người tiên. Mời anh cạn chén này cùng tôi, mai này
nơi trời Tây đường xa xứ lạ, đâu
biết ai là cố nhân?
Người nay cũng có
khi như thế, nhưng ít hơn. Đa phần uống
với bạn để vui, uống ồn ào, cụng ly
côm cốp, một món mới đem lên là uống mừng,
rồi kiếm đủ mọi cớ để phạt
nhau. Có người không bị phạt, thì tạo ra
“lỗi”, xin tự phạt để uống. Uống
ở nhà hàng bàn này qua bàn kia giao lưu, mời nhau.
Đủ trò. Hình như ai đó kể chuyện cụng ly
là… Khi ta uống lưỡi được nếm vị
rượu, mũi được ngửi hương
rượu, mắt được nhìn màu rượu,
chỉ có tai bị thiệt thòi, nên tai khiếu nại, vì
vậy có tục cụng ly để cho tai được
nghe côm cốp, ấy là tiếng rượu.
Trên những chai rượu tây
thường có in những chữ định giá trị
chất lượng như: V.S.O.P ...Một ông bạn
giảng: V.S.O.P là các mẫu
tự đầu của Versez
sans oublier personne, nghĩa là: Rót
không thiếu một người nào. Tây họ lịch
sự lắm, nhất là trong việc uống rượu
với nhau, rót cho đều, cho đủ, rồi mới
cùng nhau nâng ly. Nghe hay và có tình có lý quá, tôi tin ngay. Sau mới
biết ông bạn phịa.
Như ai đó đã nói,
địa danh DALAT là do câu tiếng La Tinh: “Dat Aliis Laetitiam Aliis Tamperantiam” nghĩa là: “Ban cho người này niềm vui
tươi, người kia dồi dào sức khỏe”.
Không tin sao? Hãy đến chợ Đà Lạt, nhìn lên
mặt tiền, thấy có đắp câu ấy. Thật rõ
ràng, nghe cũng hay và cũng có tình, có lý, tôi lại tin. Sau
mới biết, thêm một chuyện phịa, DALAT và Dat Aliis Laetitiam Aliis Tamperantiam chỉ là sự trùng hợp
ngẫu nhiên. Phải công nhân vị kiến trúc sư
thiết kế chợ Đà Lạt cho đắp câu
ấy thật có tâm hồn nghệ sĩ, có sáng kiến
độc đáo, muốn nói Dalat chính là nơi ban cho
người này niềm vui tươi, người kia
dồi dào sức khỏe. Nói thêm: Chợ Đà Lạt là
chợ cũ, đã đập phá xây dựng lại, câu La
Tinh ấy không còn.
Nhưng tôi không trách
giận ông bạn cũng như những người nào
đó. Cả V.S.O.P và DALAT họ phịa như thật. Nói
láo có sách, nói láo dễ thương, làm cho suy nghĩ của
ta thêm phong phú, ta thấy đời thêm đẹp, có ai
bị thiệt thòi gì đâu, có chết thằng Tây
thằng Mỹ nào đâu. So với hai diễn giải này
thì mấy diễn giải về tên các loại thuốc hút
CAPSTAN, PALL MALL, SALEM dẫu thành bài thơ đều xoàng
cả. Cần cảm ơn họ.
Gần đây, đi dự
tiệc hay gặp cảnh trong một bàn cùng nâng ly bia lên,
môt người hô: Một, hai,
ba... Tất cả đồng thanh: Dô! Rồi cùng uống. Tôi biết nhiều vị
cao tuổi, sống mẫu mực không chịu được cảnh này.
Mấy ông bạn trang lứa tôi cũng không đồng ý.
Riêng tôi, không phản đối chuyện người khác,
nhưng không hưởng ứng. Chung quanh hô: Dô, tôi chỉ ngồi yên, nâng
ly thôi.
Cách uống này, có văn
hóa hay phản văn hóa, xin không dám lạm bàn, thôi thì mười
người chín ý, cả một khối nhân sinh đông
đảo, làm sao bắt thiên hạ hợp với mình!
Chỉ xin ghi nhận rằng dù tốt hay xấu đã
thành thói quen. Không phải thói quen lâu năm mà mới đây
thôi, từ khi đổi mới theo cơ chế thị
trường, đời sống vật chất sung túc
hơn, đời sống tinh thần phóng khoáng hơn, ít
nhiều những ràng buộc của xã hội
được nới lỏng, cho phép con người có
thể phần nào hành xử theo ý riêng.
Nhìn lại, tầng
lớp trí thức “nổi danh” khoảng từ năm 1940 đến
1960 nào phải không “nổi loạn”? Ông Nguyễn Bính
viết: “Thà cứ ở
đây ngồi giữa chợ. Uống say mà gọi thế
nhân ơi! Thế nhân mặt trắng
như ngân nhũ. Ta với nhà ngươi cả tiếng
cười!”, ông Đoàn Thêm viết: “Uống sầu say đập chén. Chưa thấy
điện Tây Vương...”. Ngồi giữa chợ,
uống say, đập chén, cười to... đâu có
vừa gì, cũng ồn ào đáo để! Vậy, “dô dô” là sản phẩm
thời đại của những chàng trai hôm nay đang
độ thanh xuân, họ đang sống vui, lúc tiệc
tùng hớn hở reo lên khi nghe báo hiệu: Một, hai, ba... Thiết tưởng cũng nên
thông cảm cùng họ.
TRẦN
HUIỀN ÂN

0 nhận xét:
Đăng nhận xét