Cầu sắt Bến Đá, nơi NgyThanh bò qua sáng 1 tháng 7, 1972
và phát hiện gần 2 ngàn xác người. (Hình: Tác giả cung cấp)
NgyThanh
Khoảng thời gian sau khi Hiệp Định Paris có hiệu lực (ngày 27 tháng 1,
1973) đến ngày thành phố Huế thất thủ (26 tháng 3, 1975), hành khách từ
Huế đi ra Bắc, khi vừa qua khỏi cầu Bến Đá ở vị trí cách Hà Nội 784 km,
bên tay trái quốc lộ 1 có dựng tấm bảng lớn độ 2 mét x 5 mét, sơn màu
vàng, kẽ bốn chữ “Đại Lộ Kinh Hoàng” (ĐLKH) đỏ tươi màu máu. Bên dưới
góc phải có thêm 5 chữ nhỏ hơn, màu đen: “Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.”
Chắc chắn lúc bấy giờ, ngồi tại Dinh Độc Lập trên cao ngất trời xanh –
trong tình hình vi phạm ngưng bắn xảy ra khắp nơi, với việc Mỹ cuốn cờ,
với các mặt trận ở Thường Đức (Quảng Nam), ở Phước Long, quân viện bị
cắt, xăng không đủ cho máy bay yểm trợ phi pháo, đạn không có cho binh
sĩ hành quân có hiệu quả – Tổng Thống Thiệu chẳng còn lòng dạ nào để đặt
tên cho một đoạn quốc lộ 1, không quá 10 cây số, nằm lọt giữa con sông
Bến Đá và sông Nhung bé tí trên bản đồ như thế, mà chỉ là tác phẩm của
công chức phục vụ ở Ty Thông tin… Chiêu hồi tỉnh Quảng Trị, cố lấy chữ
nhét vào miệng tổng thống. Dứt khoát, Nguyễn Văn Thiệu không là kẻ nặn
từ đầu ra cái tên không mấy an lành và thanh tao ấy.









